Bài viết mới nhất
Tất cả bài viết
-
▼
2016
(52)
-
▼
tháng 5
(15)
- Cấu trúc và nguồn pháp luật ở một số quốc gia Hồi ...
- Khái quát pháp luật các quốc gia Hồi giáo
- Cơ cấu kinh tế Trung Quốc có sự chuyển dịch theo h...
- Giới thiệu khái quát về các quốc gia Hồi giáo và l...
- Sự thích ứng của luật Hồi giáo với thế giới hiện đại
- Nguồn của luật Hồi giáo – Qias
- Khái quát pháp luật các quốc gia Hồi giáo
- Cơ cấu kinh tế Trung Quốc có sự chuyển dịch theo h...
- Giới thiệu khái quát về các quốc gia Hồi giáo và l...
- Sự thích ứng của luật Hồi giáo với thế giới hiện đại
- Sunna và ljma
- Nguồn của luật Hồi giáo – Kinh Koran
- Sự hình thành và phát triển của luật Hồi giáo
- Các chế độ hồi giáo hình thành trên toàn Thế Giới
- Sự hình thành kỉ nguyên Hồi giáo
-
▼
tháng 5
(15)
Được tạo bởi Blogger.
Thứ Sáu, 29 tháng 4, 2016
Những người trung thành với đạo Hồi cho rằng luật Hồi giáo là bất diệt, không bao giờ thay đổi, đây là loại hình pháp luật cuối cùng, hoàn thiện nhất và trong tương lai toàn thể nhân loại sẽ thừa nhận và tuân thủ nó. Bởi vì nguồn luật cơ bản của nó bắt nguồn từ thượng đế (Kinh Koran) và nhà tiên tri Mohamet (Sunna). Theo quan điểm này, các văn bản pháp luật do nhà nước ban hành không thể làm thay đổi luật Hồi giáo mà chi có thể điều chỉnh những chi tiết mà luật Hồi giáo chưa cụ thể hoá hoặc còn bỏ trống.
>>> Văn phòng luật sư Hà Nội
>>> Dịch vụ sang tên sổ đỏ
>>> Văn phòng luật sư Hà Nội
>>> Dịch vụ sang tên sổ đỏ
Các quy định của đạo Hồi được xây dựng ở mức rất khái quát mà các tư tưởng phong kiến và tư tưởng hiện đại đều có thể tìm ra những lập luận ủng hộ trong đó, tạo thuận lợi cho việc giải thích và áp dụng nó một cách rất mềm dẻo. Chẳng hạn, đạo Hồi quy định nghĩa vụ từ thiện, việc giải thích quy định này có thể theo nhiều cách. Thực hiện nghĩa vụ từ thiện có thể là cho tiền người ăn xin trên đười phố, có thể là thiết lập hệ thống bảo hiểm xã hội theo mô hình phương Tây.
Ở các nước Hồi giáo các bên tranh chấp không thường xuyên thuê luật sư đại diện và đào tạo luật ở các nước này chủ yếu dành cho các học giả, hơn là cho những người hành nghề. Ở Ả rập Xê út, những người muốn làm thẩm phán hoặc luật sư phải theo học một khoá thần học, chứ không được đào tạo luật theo cách truyền thống. Theo luật của các nước Hồi giáo, luật sư chuyên nghiệp được đào tạo chính quy không phải là người bào chữa duy nhất. Trên thực tế, người Hồi giáo thưởng tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho họ.
Khái niệm tội phạm trong luật Hồi giáo xét từ góc độ hình phạt bao gồm hai loại:
- Tội phạm có thể đền bù bằng tiền;
- Tội phạm phải đền bù bằng thân thể hoặc cuộc sống.
Các học giả Hồi giáo chia ra ba loại tội phạm theo mức độ nặng nhẹ:
- Hudud: Tội phạm nguy hiểm cho xã hội nhất, chống lại những “quyền của Allah” (chống lại quyền lợi của tất cả cộng đồng Hồi giáo) với chế tài được quy định chính xác bao gồm ngoại tình, vu cáo, uống rượu, trộm cắp, cướp, phản đạo và vi phạm kinh Koran. Hình phạt đối với tội ngoại tình, vu cáo, uống rượu là bị đánh bằng roi. Hình phạt đối với tội trộm và cướp là bị đóng đinh vào thánh giá hoặc bị chặt tay chặt chân. Hình phạt đối với tội phản đạo và vi phạm kinh Koran là chặt đầu.
- Quesas: Tội phạm chống lại các cá nhân, đời hỏi sự trả thù của người bị hại hoặc gia đình người bị hại với chế tài cũng được xác định chính xác bao gồm tội giết người (cố ý hoặc vô ý), gây thương tích (cố ý hoặc vô ý), cưỡng dâm.
- Taazir: Các tội phạm liên quan đến “quyền của Allah” không thực hiện các nghĩa vụ tôn giáo) và tội phạm liên quan đến cá nhân nhưng không bị trừng phạt nặng như ăn thịt lợn, làm hứng gian, hối lộ, làm gián điệp, nói năng tục tĩu, mặc quần áo lở hang… Hình phạt cho loại tội phạm này tuỳ theo thẩm phán toà án Shariah có thể là phạt tiền, phạt tù nhưng nhẹ hơn hai loại tội phạm kể trên.
Khác với các hệ thống pháp luật khác thường coi tội làm gián điệp hay giết người là tội phạm nặng nhất, luật Hồi giáo coi các ội phạm chống lại niềm tin vào Allah là nặng nhất. Nếu phạm tội giết người thì tuỳ theo tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ mà kết án từ hình hoặc cho chuộc bằng tiền và tài sản. Theo luật Hồi giáo, giết một người đàn ông có thể chuộc bằng 50 con lạc đà, giết một người đàn bà có thể chuộc bằng 50 con lạc đà. Ở Ả rập Xê út, cho đến năm 1988 người phạm tội có thể chuộc một số tiền tương đưomg 32.000 USD cho mạng một người đàn ông Hồi giáo, 16.000 USD cho mạng một người đàn bà Hồi giáo hoặc một người đàn ông không theo Hồi giáo, 8.000 USD cho mạng một người đàn bà không theo Hồi giáo.
Toà án Hồi giáo Shariah giải quyết các vụ án dân sự và hình sự. Trước toà, đương sự phải có hai người đàn ông làm chứng. Nếu chỉ có một người đàn ông làm chứng thì đương sự có thể thề trước Allah.
Có ý kiến cho ràng đặc điểm nổi bật nhất luật Hồi giáo tính chất lỗi thời của nhiều chế định, thiếu nhất thống hoá. Ngoài ra, có thể thấy luật Hồi có những đặc điểm sau đây:
Khó có thể phân biệt giữa các quy định pháp luật và các quy định tôn giáo, vì người Hồi giáo cho rằng pháp luật và tôn giáo chỉ là một. Luật Hồi giáo can thiệp cả vào những vấn đề mà các hệ thống pháp luật khác xét thấy không cần điểu chỉnh bằng pháp luật. Chẳng hạn, luật Hồi giáo quy định tất cả phải trước khi cầu nguyện…Luật Hồi giáo có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các lĩnh vực pháp luật truyền thống như hôn nhân gia đình, thừa kí hình sự. Còn trong các lĩnh vực pháp luật như hợp đồng, sở hữu thì sự ảnh hưởng của luật Hồi giáo có phần yếu hơn.
Khoa học pháp lí đạo Hồi (ficha) gốc rễ và giải thích bằng cách nào, từ những nguồn gì xuất hiện tổng thể những quy tắc tạo ra Shariah. Ngoài ra nó nghiên cứu nội dung – những quyết định của toà án Shariah chứa đựng những quy phạm lật Hồi giáo, về cấu trúc, các khái niệm, phạm trù của mình, luật lồi giáo khá đặc biệt so với các hệ thống pháp luật khác.
Quan niệm về hành vi pháp luật của luật Hồi giáo không giống như các hệ thống pháp luật khác. Hầu hết các hệ thống pháp luật trên thế giới đều quan niệm rằng hành vi pháp luật bao gồm những hành vi phải làm và những hành vi không được làm. Luật Hồi giáo chia hành vi của con người thành 5 loại và đây là nguyên tắc cơ bản để đánh giá hành vi của con người về phương diện pháp luật cũng như đạo đức:
- Hành vi bắt buộc phải làm (obligatoire) như nghĩa vụ chăm con cái, nghĩa vụ đóng thuế;
- Hành vi nên làm (recommandes) ví dụ thăm người bạn bị ốm, giúp đỡ người nghèo khó;
- Hành vi làm cũng được không làm cũng được ví dụ như tham dự các trò tiêu khiến có tính lành mạnh;
- Hành vi bị khiến trách (blamables) ví dụ sai giờ hẹn, chậm trễ, nói lời không tế nhị, thiếu lễ phép, đi đứng không đúng tác phong, phê phán những ai giao kết hợp đồng thương mại vào ngày thứ sáu trước buổi cần kinh buổi trưa. Mặc dù vậy, hợp tầng được kí kết vào sáng thứ sáu không bị mất hiệu lực và người giao kết hợp đồng cũng không phải chịu bất cứ chế tài nào.
- Hành vi cấm (interdites) ví dụ như giết người, cướp của, lừa đảo, trộm cắp.
Chế định nghĩa vụ trong luật Hồi giáo rất phát triển. Dựa trên 7sở có hay khống sự chuyển giao tài sản là đối tượng của hợp đồng, nghĩa vụ xuất phát từ hợp đồng được chia làm hai nhóm:
- Nhóm nghĩa vụ liên quan đến việc chuyển giao tài sản là đối tượng của giao dịch dân sự bao gồm hợp đồng trao đổi, hợp đồng cho vay, hợp đồng mua bán
- Nhóm nghĩa vụ không liên quan đến chuyển giao tài sàn bao gồm hợp đồng vận chuyển hàng hoá, hợp đồng uỷ thác.
Luật Hồi giáo đòi hỏi các bên tham gia hợp đồng lập thành văn bản và phải có ít nhất hai người làm chứng.
Luật Hồi giáo không phải là hệ thống pháp luật gắn với nhà nước mà chi là một phần của Shariah. Luật Hồi giáo giống như luật giáo hội của nhà thở Thiên chúa giáo, là hệ thống các quy định mang tính tôn giáo của những người theo đạo. Các quy định của luật Hồi giáo hoàn toàn độc lập, không chịu sự chi phối của nhà nước, không quyền lực nào có thể thay đổi luật Hồi giáo. Luật Hồi giáo khác với luật Giáo hội ở chỗ luật Giáo hội không phải là hệ thống pháp luật đầy đủ, luật Giáo hội có nguồn gốc thần thánh – không phải do thượng đế đưa ra và luật Giáo hội có thể bị thay đổi.
Luật Hồi giáo không phải là hệ thống các quy phạm pháp luật theo đúng nghĩa của thuật ngữ này. Luật Hồi giáo xa lạ với cách tiếp cận lịch sử coi pháp luật như hiện tượng được sinh ra và thay đổi để đáp ứng nhu cầu của đời sống xã hội. Luật Hồi giáo được coi là do thượng đế đặt ra một lần và không thay đổi, xã hội cần phải tuân theo luật của thượng đế chứ không phải ngược lại.
Luật Hồi giáo thể hiện ý chí của thượng đế chứ không phải của nhà nước nên nó hướng tới điều chính hầu hết các lĩnh vực của đời sống chứ không chỉ đề cập những vấn dề mà nhà nước quan tâm. Bởi vậy, trong luật Hồi giáo chứa đựng cả các quy tắc quy định tín đồ phải tuân theo những điều răn nào, phải ăn chay như thế nào, phải thực hiện việc bố thí và phải đi hành hương thế nào. Mặc dù luật Hồi giáo không mang tính cưỡng chế nhưng thư hệ thống các quy tác xử sự, là “con đường của thượng đế” nó đồng thời cũng được bao trùm trong hệ thống các tập quán với học thuyết về nghĩa vụ – chì ra ý nghĩa tồn tại của tín đồ, cách thức thực hiện những nghĩa vụ tôn giáo và hứa hẹn ban thưởng bằng cuộc sống hạnh phúc trên thiên đường.
Luật Hồi giáo bao gồm hai bộ phận. Bộ phận thứ nhất là học thuyết tôn giáo với các giáo điều mà tín đồ phải tin. Bộ phận thứ hai là luật thần thánh quy định những gì mà tín đồ phải làm và không được làm. Theo Bergsstrasser, luật Hồi giáo là kết tinh của tinh thần Hồi giáo chính thống, là sự phản ánh rõ nét nhất của tư tưởng Hồi giáo, là mắt xích chính của Hồi giáo.
Những người Hồi giáo thừa nhận rằng những quy tắc xử sự rút ra từ những thần khải của thượng đế không đủ rõ ràng để tiếp nhận, bởi vậy được bình giải và phát triển bởi những học giả được cộng đồng Hồi giáo thừa nhận. Tuy nhiên, theo học thuyết Hồi giáo chính thống, sự bình giải và phát triển của các học giả không nhằm sáng tạo ra những quy tắc xử sự mới mà có mục đích để làm sáng tỏ, để hiểu ý nghĩa của những quy tắc đã tồn tại sẵn.
Luật Hồi giáo giới hạn những nghĩa vụ và quy định cụ thể nội dung các quyền cá nhân. Việc vi phạm các quyền và nghĩa vụ sẽ bị thẩm phán của toà án Hồi giáo áp dụng các biện pháp trừng phạt, về nguyên tắc, luật Hồi giáo chỉ được áp dụng để điều chỉnh mối quan hệ giữa những người Hồi giáo. Mối quan hệ của những người không phải Hồi giáo, sống ở gia đình Hồi giáo được điều chỉnh bằng các quy phạm pháp luật nhà nước.
Nhiều quốc gia trên thế giới đã xây dựng hệ thống pháp luật dưới ảnh hưởng mạnh mẽ hoặc trực tiếp dẫn luật hồi giáo. Hệ thống pháp luật ở các quốc gia này tạo thành nhóm đặc biệt về để hiểu được nhóm luật này đời hởi những chức nhất định về hồi giáo và các nguồn của luật Hồi giáo.
Theo quan điểm của một số giáo sư Nga thi nguồn và hình thúc pháp luật đồng nghĩa với nhau. Tuy nhiên theo quan điểm của nhiều giáo sư thuộc hệ thống pháp luật lục địa châu Âu và Anh – Mỹ và thì nguồn (Les sources du droit) là khái niệm rộng hơn khái niệm hỉnh thức pháp luật (Les formes du droit). Chúng tôi cho rằng quan niệm thứ hai này rất phủ hợp với việc nghiên cứu nguồn và hình thức pháp luật XHCN.
Theo quan điểm này thuật ngữ “nguồn luật” dùng để chỉ nơi xuất phát những tư tưởng pháp luật còn hình thức pháp luật là nơi chứa đựng những quy phạm pháp luật. Như vậy đối với hệ thống pháp luật XHCN hình thức pháp luật hiện tại bao gồm văn bản quy phạm pháp luật, tập quán pháp luật và tiền lệ pháp luật. Hình thức tiền lệ pháp luật chỉ được thừa nhận khi giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế, khi mà Việt Nam đã thoả thuận với bên đôi tác chọn pháp luật nước ngoài để giải quyết khi xẩy ra tranh chấp. Tuy nhiên nguồn của pháp luật XHCN rộng hơn. Nó có thể là: Các giáo trình trước đây và hiện nay ớ nước Nga như giáo trình lí luận nhà nước và pháp luật 1999 của Trưởng đại học tổng hợp quốc gia Lomonosov do giáo sư M. N. Marchenko chú biên đường lối, chủ trương, chính sách của trong các nghị quyết của Đại hội Đảng của Ban chấp hành Trung ương Đảng, chính trị BCHTW; các văn bàn quy phạm phá bản luật và dưới luật; các tập quán phát sinh quy định của lệ làng, hương ước, luật án đã tạo ra công bàng, công lí trong xã nhận, ở Việt Nam hàng năm Toà án nhân dân công tác xét xử và chọn lọc một sổ vụ án toà án nhân dân cấp dưới xét xử . Các bản án điển hình do Toà án nhân dân dẫn toà án cấp dưới xét xử có thể co Việt Nam không có các bộ án lệ và chưa án lệ như các nước theo hệ thống pháp luật.
TOÀ ÁN VÀ VIỆN KIỂM SÁT TRONG PHÁP LUẬT THUỘC DÒNG HỌ CHỦ NGHĨA
Hệ thống tổ chức toà án ở các nước XHCN chức theo nguyên tắc tam quyền phân lập ra những hạt nhân hợp lí nhất trong tổ chính. Đó là cơ quan toà án tách khỏi cơ quan ngành độc lập. Toà án xét xử công khai, 3 pháp luật, các cơ quan nhà nước khác 3 hoạt động xét xử của cơ quan toà án. c độ hai cấp xét xử. Trước toà án, mọi công quyền tự bào chữa và thuê luật sư bào chữa điều tra, truy tố, xét xử được tách thuộc các dân tộc khác nhau đều có quyền dùng tiếng nói, cho viết của mình trước toà án.
Thứ Năm, 28 tháng 4, 2016
Hiện nay có khoảng 1,3 ti tín đồ Hồi giáo sống tại hơn 50 quốc gia trên thế giới. Những tín đồ này tuân theo luật Hồi giáo là một phần của giới luật Hồi giáo. Luật Hồi giáo là tập hợp các chế định, các quy tắc xử sự được rút ra từ những thần khải của thượng đế mà tín đồ Hồi giáo bắt buộc phải tuân theo. Rene David xếp luật Hồi giáo vào dòng họ pháp luật tôn giáo và truyền thống, Zweigert và Kotz quan niệm luật Hồi giáo là kiều pháp luật độc lập, tương đương với các kiểu pháp luật Pháp, Đức, Bắc Âu… Ở các nước Hồi giáo, bên cạnh luật Hồi giáo còn có pháp luật thực định của quốc gia. Pháp luật thực định của các nước Hồi giáo chịu rất nhiều ảnh hưởng của luật Hồi giáo nhưng không hoàn toàn trùng khít với luật Hồi giáo.
Luật Hồi giáo và pháp luật ở các nước Hồi giáo có rất nhiều điểm khác biệt với các hệ thống pháp luật khác nên nghiên cứu luật Hồi giáo có những điểm thú vị và cho chúng ta thấy kiểu tư duy pháp lí khác, cho chúng ta thấy sự đa dạng của các hệ thống pháp luật trên thế giới.
Khái niệm luật Hồi giáo
Muốn hiểu được khái niệm luật Hồi giáo, trước tiên phải hiểu được khái niệm đạo Hồi – Islam. Từ “Islam” (tên của đạo Hồi theo tiếng Ả rập) có nghĩa là “tuân phục”. Tư tưởng trung tâm của đạo Hồi chi đơn giản là tuân phục hoàn toàn ý chí và luật lệ của thượng đế. Người tuân phục thượng đế như thế gọi là muslim, tức người tuân phục – hay tín đồ Hồi giáo. Islam truyền sang Trung Quốc, chủ yếu được người dân tộc thiểu số Hồi Hồi tiếp nhận nên gọi là “Hồi giáo”.
Tín ngưởng đạo Hồi có thể tóm tắt trong vài lởi và đỏ cũng là lời cầu nguyện hàng ngày của các tín đồ Hồi giáo trên khắp thế giới: “Không có chúa trời nào khác ngoài Allah và Mohammed là tiên tri của Ngài”. Allah không phải là tên của một vị thần mà đó chỉ đơn giản có nghĩa là “thượng đế” theo tiếng Ả rập – thượng đế tối cao và duy nhất.
Các tín đồ Hồi giáo sống tuân theo giới luật đạo Hồi (tiếng Ả rập là Shariah – con đường của thượng đế). Trong Shariah có những quy định như cấm trộm cáp, nói dối, giết người, ngoại tình và uống rượu. Shariah cũng bắt buộc người Hồi giáo phải có đức khoan dung và khiêm tốn, đối xử với nhau một cách công bằng.
Mặc dù Shariah dựa trên tư tưởng về nghĩa vụ của con người, trong nó vẫn có chỗ cho khái niệm pháp luật nhở sự công nhận những ranh giới nhất định đối với bổn phận (thượng đế trao cho mỗi người những gì anh ta có thể gánh vác được) và nhờ sự quy định cụ thể các quyền cá nhân. Sự không tôn trọng các quyền cá nhân đó sẽ kéo theo những chế tài do các thẩm phán toà án Hồi giáo đưa ra.
Đặc điểm chung của hệ thống tổ chức toà án ở các nước XHCN trước thời kì đổi mới là hệ thống thẩm phản và hội thẩm nhân dân do bầu cừ thành lập ra. Hệ thống toà án ở Liên Xô có bốn cấp: Toà án nhân dân huyện, quận; toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, toà án nhân dân tối cao của nước cộng hoà và Toà án tối cao của Liên bang. Các thẩm phán toà án nhân dân cấp quận, huyện do nhân dân trực tiếp bầu ra, các thẩm phán toà án cấp cao hơn do các Xô viết (cơ quan dại diện của nhân dân ở các cấp) bầu ra. Trong các phiên toà toà án cấp sơ thẩm thưởng có 1 thẩm phán và 2 hội thẩm nhân dân. Các phiên toà toà án cấp phúc thẩm luôn luôn có 3 thẩm phán và không có hội thẩm nhân dân, các phiên toà của Toà án nhân dân tối cao thường có 5 thẩm phán. Tất cả các thẩm phán đều có nhiệm kì là 5 năm và có thể bị cử tri bãi nhiệm trước thời hạn. Trước thời kì đổi mới, các thẩm phán ở các nước XHCN không nhất thiết phải là luật gia. Ở nước Nga, nguyên tắc bầu thẩm phán được hình thành từ năm 1903 dưới chế độ Sa hoàng.
Ở các nước XHCN Đông Ẩu và các nước XHCN châu Á hệ thống toà án thông thưởng chỉ có ba cấp là toà án nhân dân cấp huyện, quận, toà án nhân dân cấp tinh, thành phố trực thuộc trung ương và Toà án nhân dân tối cao.
Đặc điểm quan trọng khác của hệ thống toà án XHCN là xét xử tập thể. Bất kì phiên toà nào trong hệ thống toà án các nước XHCN đều phải do tập thể các thẩm phán hoặc thẩm phán cùng hội thẩm nhân dân xét xử.
Thời kì đồi mới, hệ thống toà án các nước XHCN thay đổi nhất định. Ở Trung Quốc, Luật ngày 28/5/19 việc thiết lập đội ngũ thẩm phán chuyên nghiệp không bị luân chuyển hoặc miễn không vi phạm pháp luật hoặc vì lí do sức khoẻ. Ở Việt Nam hiến pháp 1992, chế độ thẩm phán bầu được thay thế bằng phán bổ nhiệm với nhiệm kì 5 năm và không hạn kì tái bổ nhiệm. Cũng như ở Trung Quốc, các thẩm phán ít nhất phải có trình độ đại học luật, cạnh toà án, viện kiểm sát (La Prokouratoura) ở nước XHCN được coi là bộ phận quan trọng của cơ quan.Nếu so sánh với bộ máy nhà nước tư sản chúng sát là chế định đặc biệt trong bộ máy nhà nước viện kiểm sát do đại đế lập ra vào năm 171 lệnh danh là: “Con mắt của Sa Hoàng”.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)






