Được tạo bởi Blogger.
Thứ Năm, 28 tháng 4, 2016
Hiện nay có khoảng 1,3 ti tín đồ Hồi giáo sống tại hơn 50 quốc gia trên thế giới. Những tín đồ này tuân theo luật Hồi giáo là một phần của giới luật Hồi giáo. Luật Hồi giáo là tập hợp các chế định, các quy tắc xử sự được rút ra từ những thần khải của thượng đế mà tín đồ Hồi giáo bắt buộc phải tuân theo. Rene David xếp luật Hồi giáo vào dòng họ pháp luật tôn giáo và truyền thống, Zweigert và Kotz quan niệm luật Hồi giáo là kiều pháp luật độc lập, tương đương với các kiểu pháp luật Pháp, Đức, Bắc Âu… Ở các nước Hồi giáo, bên cạnh luật Hồi giáo còn có pháp luật thực định của quốc gia. Pháp luật thực định của các nước Hồi giáo chịu rất nhiều ảnh hưởng của luật Hồi giáo nhưng không hoàn toàn trùng khít với luật Hồi giáo.


Hồi giáo và khái niệm của hồi giáo

Luật Hồi giáo và pháp luật ở các nước Hồi giáo có rất nhiều điểm khác biệt  với các hệ thống pháp luật khác nên nghiên cứu luật Hồi giáo có những điểm thú vị và cho chúng ta thấy kiểu tư duy pháp lí khác, cho chúng ta thấy sự đa dạng của các hệ thống  pháp luật trên thế giới.
Khái niệm luật Hồi giáo
Muốn hiểu được khái niệm luật Hồi giáo, trước tiên phải hiểu được khái niệm đạo Hồi – Islam. Từ “Islam” (tên của đạo Hồi theo tiếng Ả rập) có nghĩa là “tuân phục”. Tư tưởng trung tâm của đạo Hồi chi đơn giản là tuân phục hoàn toàn ý chí và luật lệ của thượng đế. Người tuân phục thượng đế như thế gọi là muslim, tức người tuân phục – hay tín đồ Hồi giáo. Islam truyền sang Trung Quốc, chủ yếu được người dân tộc thiểu số Hồi Hồi tiếp nhận nên gọi là “Hồi giáo”.
Tín ngưởng đạo Hồi có thể tóm tắt trong vài lởi và đỏ cũng là lời cầu nguyện hàng ngày của các tín đồ Hồi giáo trên khắp thế giới: “Không có chúa trời nào khác ngoài Allah và Mohammed là tiên tri của Ngài”. Allah không phải là tên của một vị thần mà đó chỉ đơn giản có nghĩa là “thượng đế” theo tiếng Ả rập – thượng đế tối cao và duy nhất.
Các tín đồ Hồi giáo sống tuân theo giới luật đạo Hồi (tiếng Ả rập là Shariah – con đường của thượng đế). Trong Shariah có những quy định như cấm trộm cáp, nói dối, giết người, ngoại tình và uống rượu. Shariah cũng bắt buộc người Hồi giáo phải có đức khoan dung và khiêm tốn, đối xử với nhau một cách công bằng.
Mặc dù Shariah dựa trên tư tưởng về nghĩa vụ của con người, trong nó vẫn có chỗ cho khái niệm pháp luật nhở sự công nhận những ranh giới nhất định đối với bổn phận (thượng đế trao cho mỗi người những gì anh ta có thể gánh vác được) và nhờ sự quy định cụ thể các quyền cá nhân. Sự không tôn trọng các quyền cá nhân đó sẽ kéo theo những chế tài do các thẩm phán toà án Hồi giáo đưa ra.
Đặc điểm chung của hệ thống tổ chức toà án ở các nước XHCN trước thời kì đổi mới là hệ thống thẩm phản và hội thẩm nhân dân do bầu cừ thành lập ra. Hệ thống toà án ở Liên Xô có bốn cấp: Toà án nhân dân huyện, quận; toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, toà án nhân dân tối cao của nước cộng hoà và Toà án tối cao của Liên bang. Các thẩm phán toà án nhân dân cấp quận, huyện do nhân dân trực tiếp bầu ra, các thẩm phán toà án cấp cao hơn do các Xô viết (cơ quan dại diện của nhân dân ở các cấp) bầu ra. Trong các phiên toà toà án cấp sơ thẩm thưởng có 1 thẩm phán và 2 hội thẩm nhân dân. Các phiên toà toà án cấp phúc thẩm luôn luôn có 3 thẩm phán và không có hội thẩm nhân dân, các phiên toà của Toà án nhân dân tối cao thường có 5 thẩm phán. Tất cả các thẩm phán đều có nhiệm kì là 5 năm và có thể bị cử tri bãi nhiệm trước thời hạn. Trước thời kì đổi mới, các thẩm phán ở các nước XHCN không nhất thiết phải là luật gia. Ở nước Nga, nguyên tắc bầu thẩm phán được hình thành từ năm 1903 dưới chế độ Sa hoàng.


Đặc điểm chung của hệ thống tổ chức toà án ở các nước XHCN

Ở các nước XHCN Đông Ẩu và các nước XHCN châu Á hệ thống toà án thông thưởng chỉ có ba cấp là toà án nhân dân cấp huyện, quận, toà án nhân dân cấp tinh, thành phố trực thuộc trung ương và Toà án nhân dân tối cao.
Đặc điểm quan trọng khác của hệ thống toà án XHCN là xét xử tập thể. Bất kì phiên toà nào trong hệ thống toà án các nước XHCN đều phải do tập thể các thẩm phán hoặc thẩm phán cùng hội thẩm nhân dân xét xử.
Thời kì đồi mới, hệ thống toà án các nước XHCN thay đổi nhất định. Ở Trung Quốc, Luật ngày 28/5/19 việc thiết lập đội ngũ thẩm phán chuyên nghiệp không bị luân chuyển hoặc miễn không vi phạm pháp luật hoặc vì lí do sức khoẻ. Ở Việt Nam hiến pháp 1992, chế độ thẩm phán bầu được thay thế bằng phán bổ nhiệm với nhiệm kì 5 năm và không hạn kì tái bổ nhiệm. Cũng như ở Trung Quốc, các thẩm phán ít nhất phải có trình độ đại học luật, cạnh toà án, viện kiểm sát (La Prokouratoura) ở nước XHCN được coi là bộ phận quan trọng của cơ quan.Nếu so sánh với bộ máy nhà nước tư sản chúng sát là chế định đặc biệt trong bộ máy nhà nước viện kiểm sát do đại đế lập ra vào năm 171 lệnh danh là: “Con mắt của Sa Hoàng”. 
Pháp luật XHCN trong thời kì kinh tế kế hoạch hoá tập trung và cơ chế hành chính, bao cấp
Nhìn chung hệ thống pháp luật các trong giai đoạn này có các đặc điểm sau đây:
-     Thiết lập chế độ công hữu về tư liệu với hai hình thức là sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể.
-      Xây dựng nền kinh tế kế hoạch hoá đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc sở hữu nhà nước nền kinh tế tự định đoạt về kế hoạch sản xuất kinh doanh cũng phải theo kế hoạch từ cấp trên đưa xuống.
-     Công dân không có quyền sở hữu về sản xuất, không có quyền tự do kinh doanh.

Pháp luật XHCN trong thởi kì kế hoạch hóa

Kinh tê đối ngoại không phát triển xuất nhập khẩu, đâu tư nước ngoài không có điều tự do quan hệ đối đầu giữa các nước XHCN và tư bản
-    Ở các nước XHCN, pháp luật thương mại kinh doanh, công ty, chứng khoán, đầu tư không có điều kiện phát triển.
-    Về chế độ chính trị đều thiết lập vai trở lãnh đạo của Đảng cộng sản và tiến hành chế độ nhất nguyên.
-     Một số nước XHCN do đề cao tính giai cấp của nhà nước hưng không đề cao tính xã hội của nhà nước nên đã không thực hiện không tốt chính sách đoàn kết dân tộc, đoàn kết các lực lượng ong xã hội để xây dựng nhà nước XHCN.
-       Nhìn chung, pháp luật trong thời kì này có hiệu lực và hiệu quả thấp
Pháp luật XHCN trong thời kì đổi mới – xây dựng nền inh tế thị trưởng định hướng XHCN
Pháp luật XHCN trong thời kì đổi mới có các đặc điểm cơ in sau đây:
-   Thiết lập nền kinh tế thị trưởng với nhiều hình thức sở hữu ị tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế.
-  Xoá bỏ chế độ kế hoạch hoá tập trung, xây dựng kế hoạch hoá định hướng.
-   Cho phép mọi công dân đều có quyền tự do kinh doanh
-  Mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại, pháp luật tạo điều kiện lận lợi cho các hoạt động đầu tu, sản xuất kinh doanh trong nước như nước ngoài.
-   Pháp luật tạo mọi điều kiện cho các thành phần kinh tế nhà nước,thể, tư nhân, tư bàn phát triển. Các thành phần kinh tế bình đẳng ức pháp luật.
-    Pháp luật tiếp tục khẳng định vai trở lãnh đạo của Đảng cộng sản trong hệ thống chính trị.Pháp luật phát triển theo xu hướng hội nhập và quốc tế hoá đông thời gìn giữ những bản sắc văn hoá dân tộc.
-    Pháp luật XHCN đã khắc phục được những hạn chế trong giai đoạn kinh tể kế hoạch hoá tập trung và cơ chế hành chính bao cấp, phát triển ngày càng toàn diện, đồng bộ, phủ hợp với diều kiện kinh tế xã hội, ngày càng có hiệu lực và hiệu quả cao hơn.
 Trong giai đoạn từ năm 1945 đến 1991Quốc đã ban hành các bản hiến pháp 1954, 1975, 1978, 1:. Các hiến pháp 1954, 1975, 1978 là các hiến pháp của cơ quan chính, quan liêu bao cấp và nền kinh tể kế hoạch hoá tăng. Hiến pháp 1982 là hiến pháp của thời kì đổi mới, xây nền kinh tể thị trưởng, kinh tế nhiều thành phần, tự do thương mại. Hiến pháp này được sửa đổi bởi Hiến pháp 1993.
Hiến pháp của thởi kì đổi mới

Giai đoạn từ năm 1991 đến nay
Giai đoạn này được đánh dấu bằng sụp đổ của chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu, dòng họ pháp luật XHCN thu hẹp lại. Hiện nay dòng họ pluật XHCN chỉ còn tồn tại ở Trung Quốc, Việt Nam, Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, Cu Ba và Lào. Đây là giai đoạn trước XHCN còn lại thực hiện chính sách đổi mới, xoá bỏ nền tế kế hoạch hoá tập trung và cơ chế hành chính quan liêu, xây dựng nền kinh tế thị trưởng theo định hướng XHCN, hưởng yếu tố dân chủ và xây dựng nhà nước pháp quyền.
CÁC ĐẶC ĐIỂM CỬA DÒNG HỌ PHÁP LUẬT
Dòng họ pháp luật XHCN có các đặc điểm cơ bản sau
-    Đây là hệ thống pháp luật gắn liền với hệ tư tưởng Lênin về nguồn gốc, bản chất, hỉnh thức nhà nước và pháp luật gắn liền với Cách mạng tháng Mười năm 1917 của nước sự ra đời, phát triển của nhà nước XHCN.
-    So với các hệ thống pháp luật khác thì đây là hệ thố luật ra đời muộn nhất. Hệ thống pháp luật Hồi giáo ra được cả VII, hệ thống pháp luật Anh – Mỹ ra đời từ thế kỉ X, ở lục địa châu Âu ra đời từ thế ki XIII, còn dòng họ pháp luật XHCN ra đời vào đầu thế kỉ XX.
-   Mặc dù đây là hệ thống pháp luật chịu nhiều ảnh hưởng hệ thống pháp luật lục địa châu Âu nhất là các chế định pháp luật dân sự, tuy nhiên hệ thống pháp luật này không phân chia công pháp và tư pháp.
-  Dòng họ pháp luật XHCN cũng giống như hệ thống hâu Âu, gắn liền với hệ thống tố tụng thẩm vấn.
-  Đây là hệ thống pháp luật coi trọng pháp luật thành hông có truyền thống áp dụng án lệ.
- Dòng họ pháp luật XHCN bao gồm cả các nước châu Á và châu Mỹ Latinh vì vậy các nước thuộc dòng họ pháp luật XHCN có truyền thống pháp luật rất khác nhau.
-  Đường lối phát triển kinh tế ở các nước XHCN trong thời ki đổi mới rất khác nhau, vi vậy pháp luật nước XHCN trước và trong thời kì đổi mới có nhiều đặc lác nhau.
Vì lí do trên đây khi nói đến các đặc điểm của XHCN chúng ta phải chia làm 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Pháp luật XHCN trong kế hoạch hoá tập trung và cơ chế hành chính quan lito (ở Trung Quốc từ khi thành lập nước Cộng hoà nhân Hoa đến năm 1979, Việt Nam từ năm 1958
Giai đoạn 2: Pháp luật XHCN trong Cơ chế kinh tế thị trường (Trung Quốc từ năm 1979, 1986 đến nay).
Thứ Tư, 27 tháng 4, 2016
Từ năm 1928-1940 – giai đoạn xây dựng trang trại tập thể (Collectivisation)
     Về hoạt động xây dựng pháp luật cần trong giai đoạn này bản Hiến pháp thứ 2 của Liên Xô – Hiến pháp năm 1936 ra đời.
>>> Luật sư giỏi ở Hà Nội

>>> Thủ tục mua bán nhà
     Với Hiến pháp năm 1936 quyền bầu củ (hỗ chưa hoàn toàn bình đẳng (theo Hiến pháp năm 1924) thinh hoàn toàn binh đẳng, từ chỗ bầu cử gián tiếp nhiều cấp tài khoản bầu cử trực tiếp, từ chỗ bỏ phiếu công khai trở thành bỏ phiếu, từ chỗ bầu cử theo đơn vị sản xuất, công tác thành bầu (teo nguyên tắc hành chính lãnh thổ. Xô viết từ chỗ là cơ quan dệt của công nhân, nông dân, binh sĩ trở thành cơ quan của toàn thể nhân dân lao động.

Giai đoạn xây dựng trang trại tập thể (Collectivisation)

Từ năm 1941 – 1945: Đại chiến thế giới lần thứ 2
    Hoạt động xây dựng Nhà nước và pháp luật bị ngưng trệ đất nước có chiến tranh.
Giai đoạn từ 1945 -1991
      Nhờ thắng lợi của hồng quân Liên Xô hàng loạt các nước XHCN ra đời. Đó là các nước Ba Lan, Tiệp Khắc, Bungari Humani, Hungari, Cộng hoà dân chủ Đức, Nam Tư, Mông Cổ Trung Quốc, Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, Việt Nam Cu Ba. Các nước XHCN trở thành một hệ thống. Phạm vi ảnh hưởng của dòng họ pháp luật XHCN được mở rộng. Trong giai loạn này Liên Xô đã ban hành một số bộ luật quan trọng:
-     Bộ luật hình sự 1960
-     Bộ luật dân sự 1961
-     Bộ luật lao động 1971
-     Bộ luật hôn nhân và gia đình 1968.
    Trên cơ sở các bộ luật của Liên Xô, các nước cộng hoà thành niên của Liên Xô đã ban hành các bộ luật của minh.
     Năm 1977 Liên Xô ban hành bản Hiến pháp thứ 3. So với các liến pháp trước, đây là lần đầu tiên hiến pháp tuyên bố Nhả nước ;<CÔ viết là nhà nước toàn dân. Cũng trong Hiến pháp 1977 lần đầu trên vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản được thể chế hoá trong Điều 6: “Đảng cộng sản Liên Xô là hạt nhân của hệ thống chính trị, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội Liên Xô “.
     Nói đến pháp luật XHCN giai đoạn từ năm 1945 – 1991 không thể không đề cập pháp luật Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, và đây là quốc gia có dân số đứng đầu của thế giới với hơn 1,2 tỉ người. Năm 1949 nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ra đời. Từ năm 1949 – 1954 Trung Quốc chưa có hiến pháp. Mọi thể chế chính trị thiết lập theo cương lĩnh chung hội nghị hiệp thương chính trị theo mô hình nhà nước dân nhân dân. Cải cách ruộng đất được thực hiện từ năm 195011952. Từ năm 1954 -1966 Trung Quốc xác lập và xây dựng chế độ chính trị XHCN. Từ năm 1966 – 1976 Cách mạng văn án công vào hệ thống Đảng và chính quyền. Hệ thống Nhà văn pháp luật bị đình trệ. Từ năm 1976 đến nay là giai đoạn bước thoát ra khỏi sự đình trệ. Từ năm 1979 bắt đầu chuyển đổi mới của Đặng Tiểu Bình.


Giai đoạn từ năm 1917 đến 1945
    Đây là giai đoạn bắt đầu từ khi thành lập nhà nước Xô viết đến kết thúc đại chiến thế giới lần thứ 2. Giai đoạn này được chia làm 4 thời kì:
>>> Luật sư giỏi ở Hà Nội

>>> Thủ tục mua bán nhà

Giai đoạn từ năm 1917 đến 1945

Từ năm 1917 -1921
      Giai đoạn thiết lập chính quyền Xô viết tại nước Nga, Ukrain, Bạch Nga, Adécbaigian, Grudia, Armenia, Kajakstan… Hiến pháp đầu tiên được ban hành trong giai đoạn này là Hiến pháp Nga năm 1918. Với bản Hiến pháp này và sắc lệnh về đất đai năm 1918 toàn bộ đất đai được quốc hữu hoá, tài sản của địa chủ, tư sản bị quốc hữu hoá. Hiến pháp năm 1918 là cơ sở pháp li để thiết lập nền chuyên chính vô sản, thiết lập chế độ dân chủ cho giai cấp công nhân và nông dân và binh sĩ, trấn áp địa chủ và tư sản. Hiến pháp năm 1918 đã thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất dưới hai hình thức là sở hữu nhà nước và sớ hữu tập thể. Tư liệu sản xuất thuộc sở hữu tư nhân bị quốc hữu hoá biến thành tài sản của toàn dân. Hiến pháp năm 1918 của nước Nga Xô viết nhanh chóng trở thành mô hình mẫu cho hiến pháp các nước cộng hoà Xô Viết: Hiến pháp của Cộng hoà Xô Viết Látvia 1919; Hiến pháp của Cộng hoà Xô viết Ukrain 1919; Hiến pháp Cộng hoà Xô viết déc-bai-gian 1921…
Từ năm 1922 -1928
     Đây là thời kì thành lập Liên bang Cộng hoà XHCN Xô viết là là thời kì chính sách kinh tế mới.
    Năm 1922 Liên bang Cộng hoà XHCN Xô viết được thành ập. Năm 1924 Hiến pháp đầu tiên của Liên Xô được ban hành. Sau khi Hiến pháp Liên Xô ban hành, các nước là thành viên của Liên Xô như Ukrain, Bạch Nga, Zakápkagio, Turkmen,… cũng lần lượt ban hành Hiến pháp vào những năm tiếp sau đó trên cơ sở phù hợp với Hiến pháp của Liên bang.
     Giai đoạn từ năm 1922 đến 1928 cũng là giai đoạn Liên Xô xây dựng được nhiều bộ luật như Bộ luật dân sự (1922), Bộ luật tố tụng dân sự (1923), Bộ luật hình sự (1922), Bộ luật tố tụng hình sự (1923), Bộ luật lao động (1922), Bộ luật hôn nhân và gia đình (1926). Các bộ luật này được xây dựng theo kĩ thuật lập pháp của Đức, đều có phần chung và phần riêng.
     Để khôi phục kinh tế cho đất nước đã bị kiệt quệ sau nội :hiến, chính quyền Xô viết đã ban hành chính sách kinh tế mới. Nội dung của chính sách kinh tế mới là tạo điều kiện cho nền kinh tế thị trưởng, các thành phần kinh tế phi XHCN phát triển và thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
     Sau 7 năm thực hiện chính sách kinh tế mới, kinh tế đất nước, đặc biệt là nông nghiệp đã được phát triển nông thôn đã xuất hiện một tầng lớp phú nông với kinh tế trang trại khá giả (gọi là Koulaks).
Pháp luật truyền thống của các nước XHCN châu Á
     Pháp luật truyền thống của các nước XHCN châu Á như Trung Quốc, Việt Nam, Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên về cơ bản có những đặc điểm chung giống nhau. Đó là sự ảnh hưởng của Khổng giáo và quan niệm chung về pháp luật nặng nề pháp luật hình sự và hành chính, nhẹ về pháp luật dân sự, trị nước, theo Khổng giáo thì nền cai trị cần có bốn yếu tố là: lễ, nhạc, hình, chính. 
>>> Luật sư giỏi ở Hà Nội

>>> Thủ tục mua bán nhà

Pháp luật truyền thống của các nước XHCN châu Á

    Lễ để tiết chế lởng dân, nhạc để hoà thanh âm của dân, chính trị để định việc làm, hình pháp để ngăn cấm điêu bậy. Theo nhà luật học so sánh Thuỵ Điển – GS. Michael Bogdan, một trong những 5 quan điểm nền tảng của đạo Khổng là khái niệm về sự hài hoà trong vũ trụ. Các cá thể về bản chất là bộ phận trong sự hài hoà đó nên luôn phải khiêm nhường, giữ vị trí của mình và tuân thủ các quy tắc xử sự theo quan niệm đạo đức trong xã hội. Các quy tắc này dựa trên những tập quán lâu đời, tuy phức tạp nhưng cân đối, chặt chẽ và thay đổi tuỳ theo môi quan hệ giữa các cá thể.
     Theo Khổng Tử, thẩm phán và các đạo luật là những công cụ cần thiết để trừng phạt các loại tội phạm nhưng không cần thiết để điều chỉnh quan hệ giữa những người trung thực. Nói một cách khác, luật hình sự là cần thiết còn luật dân sự là không cần thiết. Nếu tất cà mọi người đều cư xử phù hợp với các chuẩn mực đạo đức thì sẽ không có xung đột. Tranh chấp giữa các cá thể cẩn được giải quyết bằng con đường hoà giải và thoả hiệp phủ hợp với các nguyên tắc đạo đức mà theo đó các bên liên quan sẽ cừ các thành viên đáng kính trọng của gia đình, họ tộc đứng ra làm người giàn xếp, giải quyết. Điều quan trọng hơn cả sự chiến thắng của bất kì bên nào trong kiện tụng là sự hoà hợp cần phải được giữ gìn và vì thế không có bên nào thắng, không có bên nào thua. Cá nhân nào từ chối chấp nhận cách giải quyết thân thiện sẽ bị coi là một người xấu.
SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA DÒNG HỌ PHÁP LUẬT XHCN
    Dòng họ pháp luật XHCN ra đời năm 1917 cùng với sự ra đời của nhà nước Xô viết Nga – nhà nước chuyên chính vô sản đầu tiên trên thế giới.
Cho đến nay, dòng họ pháp luật XHCN đã trải qua 3 giai đoạn phát triển:
-     Giai đoạn 1: Từ năm 1917 đến 1945
-     Giai đoạn 2: Từ năm 1945 đến 1991
-     Giai đoạn 3: Từ năm 1991 đến nay